Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của đương sự

Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của đương sự. Theo khoản 3, Điều 150 BLDS 2015 quy định “thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.

Tòa án không đương nhiên áp dụng thời hiệu khi không có yêu cầu của đương sự

Về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự, khoản 4, BLDS 2015 quy định “thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu”.

Theo Điều 184 BLTTDS 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Điều này có nghĩa là các bên đương sự được quyền viện dẫn thời hiệu khởi kiện theo hướng có lợi cho mình trước khi Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm để yêu cầu Tòa án áp dụng. Trường hợp đương sự không yêu cầu hoặc từ chối áp dụng thời hiệu, Tòa án vẫn tiến hành xét xử để ban hành bản án, quyết định theo thủ tục chung. Đây được xem là một trong những điểm mới đáng lưu ý của BLTTDS 2015.

Như vậy, có thể thấy rằng suy cho cùng thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được xem như một loại chứng cứ có thể được đương sự viện dẫn nhằm chiếm ưu thế đối với đương sự còn lại trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng cũng không có quy định về việc Thẩm phán có trách nhiệm giải thích cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu. Tiểu mục 3, Mục IV Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TAND tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử cũng đã hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Theo đó, việc yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu hay không là quyền tự quyết của đương sự và Thẩm phán không có trách nhiệm phải giải thích cho đương sự về quyền này nhằm đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Mặt khác, Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS 2015 quy định rằng “đối với các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phát sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2017 thì áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12”. Mà theo quy định tại khoản 1, Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 thì “thời điểm phát sinh tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/QH13 là ngày khởi kiện, ngày yêu cầu”. Đồng thời, khoản 4, Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP quy định rằng “từ ngày 01/01/2017, Tòa án áp dụng quy định của BLTTDS 2015, BLDS 2015 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”. Trong vụ việc này, đương sự khởi kiện sau ngày của BLTTDS 2015, BLDS 2015 có hiệu lực để giải quyết là có căn cứ. 

» Mẫu đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện