Luật sư tư vấn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Luật sư tư vấn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện nay đã có rất nhiều trường hợp bị chiếm đoạt tài sản dưới mọi hình thức, mà người bị chiếm đoạt không thể nào đòi lại được tài sản không thể lấy lại được tài sản của mình, vấn đề đặt ra là hành vi nào được coi là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay là một tội khác để làm cơ sở buộc tội, gỡ tội với người có hành vi chiếm đoạt của tội này.

Luật sư tư vấn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản các vấn đề:

– Hình thức lừa đảo rất đa dạng: Mời góp vốn, mua bất động sản, mua bán hàng hóa, vay mượn…
– Phương tiện sử dụng lừa đảo: Hợp đồng, thông qua trung gian, các phương tiện công nghệ cao…

1. Nội dung tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

– Tư vấn quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bộ luật hình sự 2015 mới nhất;
– Tư vấn cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
– Tư vấn mức chiếm đoạt tài sản bao nhiêu thì bị truy tố;
– Tư vấn khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
– Tư vấn các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
– Thế nào là có tổ chức, tội đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác;
– Tư vấn bào chữa cho người bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo;
– Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có được rút đơn không?
– Tư vấn xác định tội trợ giúp người bị hại lấy lại tài sản theo quy định của pháp luật khởi kiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tố cáo.

2. Quy định của Bộ luật Hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như thế nào?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, tại khoản 1 của điều luật trên về hành vi của người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, không có thủ đoạn thuộc về tư tưởng, suy nghĩ của người phạm tội lại không được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi, cũng chính vì thế mà về lý luận khi phân tích các dấu hiệu khách quan cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một số sách báo viết, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hành vi khách quan: “hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt”, nói như thế cũng không phải là không có căn cứ. Tuy nhiên, điều văn của điều luật quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…” nên không thể coi thủ đoạn phạm tội là một hành vi khách quan được vì thủ đoạn chính là phương thức để đạt mục đích mà biểu hiện của thủ đoạn gian dối lại bao gồm nhiều hành vi khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể khác mà người phạm tội thực hiện hành vi đó nhằm đánh lừa người khác để chiếm đoạt tài sản.

» Luật sư tư vấn tội xâm phạm sở hữu tài sản

» Luật sư bào chữa tội xâm phạm sở hữu tài sản

Luật sư tư vấn, bào chữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Khi quý vị đang có vướng mắc về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần giải đáp, thuê luật sư xin liên hệ luật sư để được tư vấn: